Giáo hội Mennonite đã đến Việt nam và đã có nhiều hoạt động giữa vòng người Việt ở Việt Nam cũng như ở hải ngoại. Tuy nhiên rất ít người biết về Giáo hội này. Trong khuôn khổ bài này, chúng tôi xin trình bày vắn tắt lịch sử của Giáo hội Mennonite để giúp quý độc giả có thể hiểu biết nhiều hơn về Giáo hội.
Tất cả các Giáo hội Cơ-đốc bắt nguồn từ Chúa Jêsus. Trải qua 2000 năm, Hội thánh Cơ-đốc đã lan rộng khắp thế giới và đã phát triển một cách đa dạng và phong phú. Chúng tôi xin trình bày Lịch sử Giáo Hội Mennonite trong dòng phát triển chung của các Hội Thánh Cơ-đốc.
I.THỜI KỲ KHỞI ĐẦU
Có thể nói rằng hội thánh đầu tiên của Chúa ra đời vào ngày Lễ Ngũ Tuần đầu tiên sau khi Chúa Phục sinh và Thăng thiên. Lúc ấy các môn đồ của Chúa đang cầu nguyện tại một phòng trên lầu cao, thì Chúa Thánh Linh giáng lâm. Sau đó Sứ đồ Phi-e-rơ giảng cho những người hành hương tại Giê-ru-sa-lem nghe Phúc âm và có 3000 người tin Chúa. Số người tin Chúa mỗi ngày một gia tăng. Làn sóng người tin Chúa lan rộng ra khắp tỉnh Giu-đa, sang tỉnh Sa-ma-ri rồi thì sang các nước khác. Chúa đã dùng các con cái Chúa và đặc biệt là các vị Sứ đồ như Phi-e-rơ, Ba-na-na, Phao-lô mà rao truyền Phúc âm khắp nơi trong đế quốc La-mã.
Các hội thánh đầu tiên tổ chức mô phỏng theo các “nhà hội” người Do Thái bấy giờ. Mỗi hội thánh có các trưởng lão là chăm sóc mặt thuộc linh của hội thánh. Hội thánh cũng có các chấp sự phụ giúp các trưởng lão để chăm lo về mặt an sinh, xã hội của hội thánh. Các hội thánh trong giai đoạn đầu tiên là những hội thánh địa phương tự trị. Chưa có tổ chức liên hội ở cấp bập khu vực hay quốc gia.
Đạo Chúa lan rộng rất nhanh. Đến năm 180 SC thì Đạo Chúa đã lan đến Tây Ban Nha, năm 314 SC lan đến Pháp, Đức và Anh quốc, 1000 SC lan đến Nga. Song song với sự phát triển nhân số nhanh chóng, đạo Chúa đã phải đối diện với nhiều trở lực bên trong và bên ngoài.
Trước hết là sự bách hại từ bên ngoài. Hội thánh đầu tiên bị các nhà lãnh đạo Do Thái Giáo bắt bớ. Chính quyền La Mã có khi chiều theo yêu cầu của người Do Thái mà ngược đãi những người tin Chúa Jêsus. Tuy nhiên lúc ban đầu chính quyền giữ thái độ trung dung. Họ coi Cơ-Đốc Giáo là biến thể của Do-thái giáo, là tôn giáo hợp pháp trong Đế quốc La-mã. Về sau, khi Cơ-đốc-giáo phát triển mạnh, chính quyền La-mã đã thay đổi thái độ. Họ bắt đầu bách hại đạo Chúa, cho nên con cái Chúa phải nhóm họp bí mật vào ban đêm. Trong giai đoạn này, nhiều con cái Chúa bị săn đuổi, giam cầm, tra tấn và bị sát hại một cách dã man. Hai cơn bắt bớ quy mô khắp Đế quốc đã xảy ra. Cuộc bắt bớ thứ nhất xảy ra dưới thời Hoàng đế Decius (249-251), và cuộc bắt bớ thứ hai xảy ra dưới thời Hoàng đế Valerian (254-260) và Hoàng đế Diocletian (284-305).
Tình thế đã hoàn toàn thay đổi khi Hoàng đế Constantine (280-337) trị vì. Constantine chấm dứt việc bắt bớ Hội Thánh, đồng thời ông cũng ban hành những đạo luật thuận lợi cho Cơ-đốc-giáo. Bản thân nhà vua vẫn giữ vai trò một thầy tế lễ ngoại giáo, nhưng cuối cùng vị vua này cũng đã nhận lễ Báp-tem trước khi qua đời.
Trong thời kỳ bị bắt bớ, hội thánh có khó khăn nhưng tín lý và nếp sống đạo của con cái Chúa tương đối trong sạch. Dầu vậy, có hai hiện tượng không hay đã dần dần phát triển trong Hội thánh. Đó là việc phát triển “các cấp bậc giáo phẩm,” và việc phát triển “các phép bí tích”. Việc phát triển các cấp bậc giáo phẩm đã phá huỷ tinh thần anh em trong Hội thánh. Hội Thánh đã tạo ra các cấp bậc: phó chấp sự, chấp sự, tư tế, Giám mục rồi Giáo phụ. Hai vị Giám mục có ảnh hưởng lớn thời bấy giờ là Giám mục thành phố Constantinople và Giám mục thành phố La-mã. Đến thế kỷ thứ 6, Giám mục thành phố La-mã chiếm ưu thế, và liên hệ các Hội thánh hai miền Đông và Tây của Đế quốc mỗi ngày một căng thẳng. Đến năm 1054 SC thì Hội thánh chia đôi thành Giáo hội Công giáo La-mã, và Giáo hội chính thống Đông Phương.
Việc phát triển các phép bí tích đã làm méo mó niềm tin và biến các thánh lễ thành những phù phép. Người ta bắt đầu tin rằng những phép ấy mặc nhiên có hiệu năng, không cần biết người ban và người nhận lễ có đức tin ra sao, và đời sống đạo đức thế nào. Chẳng hạn như đối với lễ Tiệc thánh, các tín đồ cố gắng để được nhiều lần ăn bánh thánh và uống rượu thánh, vì họ tin rằng càng dự nhiều lễ họ sẽ càng được thiêng liêng hơn.
Trong giai đoạn này, Hội Thánh không còn là một cộng đồng yêu thương chăm sóc nhau, nhưng là nơi để ban phát những phép mầu. Các giáo phẩm không còn là những đầy tớ khiêm nhường phục vụ Chúa và phục vụ anh em, mà là những vị tư tế có quyền uy biến bánh và rượu thành thịt và huyết thật của Chúa. Giáo hội cũng dạy tín đồ dâng lời cầu nguyện lên các thánh, lên Đức Mẹ Maria, lên các Thiên sứ để những vị này đệ trình lên Chúa. Hội Thánh cũng thần thánh hoá những thánh tích. Người ta tôn thờ những thánh tích như “nhành gai” trong bụi gai cháy không tàn của Môi se, “sợi râu” của Giăng Báp tít, “vết máu” trên thập tự giá của Chúa Jêsus v.v… Giáo lý về đời sau cũng thay đổi. Ngoài Thiên đàng và địa ngục Kinh Thánh dạy, Giáo hội còn đề ra “Ngục Luyện Tội” (Purga-tory). Đây là nơi con cái Chúa phải ở để chịu hình phạt trước khi vào Thiên đàng. Giáo hội cũng dạy rằng các vị thánh xuất chúng đã tích luỹ được nhiều ân đức trong kho. Giáo hội có thể bán ra các ân đức ấy cho những ai cần để họ có thể hoá giải các án phạt của mình và rút ngắn thời gian mình phải ở trong ngục luyện tội.
Bên cạnh hai hiện tượng trên, giáo quyền cũng đã liên kết chặt chẽ với chính quyền từ thời Constantine. Nhiều thói tục ngoại giáo đã dần dần len vào hội thánh. Đời sống thuộc linh của Hội thánh sa sút trầm trọng. Vị giám mục ở La-mã bắt đầu được gọi là Giáo Hoàng. Nhiều vị Giáo Hoàng có đời sống sa đoạ vô cùng. Có những kỳ giáo hội có hai ba có hai ba vị Giáo Hoàng cùng một lúc. Các vị ấy tranh giành chức quyền với nhau.
II. CẢI CÁCH GIÁO HỘI
Trước tình trạng sa sút của Giáo hội, từng hồi từng lúc có những nhóm đã tách ra khỏi giáo hội để xây dựng Giáo hội mới và mong muốn theo cho đúng hơn lời dạy của Chúa. Có những nhóm khác vẫn đứng trong Giáo hội và lên tiếng kêu gọi Giáo hội cải tổ.
Nhà cải cách nổi tiếng nhất thời trung cổ là Peter Waldo, người Pháp (1140- 1217). Waldo nguyên là một thương gia giàu có. Ông nghiên cứu Kinh thánh thận trọng và quyết định vâng theo Lời Chúa mà sống một cuộc đời đơn giản trong sạch, bất bạo động. Ông bỏ công việc làm ăn và trở thành một nhà Truyền đạo lưu hành. Ông lấy Kinh thánh mà dạy dỗ người ta. Ông cũng mạnh mẽ bài bác những giáo lý sai trật của Giáo hội. Số người theo ông rất đông, lan rộng khắp Châu Âu. Giáo hội lên tiếng ngăn cản và dứt phép thông công ông. Nhiều người tin theo lời dạy của ông đã bị bắt bớ và bị giết chết.
Ở pháp có Peter Waldo thì ở Anh có John Wycliffe (1320-1384). Wycliffe sai phái những người Truyền đạo tình nguyện từng đôi đi khắp nước Anh để giảng đạo. Ông bài bác các giáo lý sai trật của Giáo hội như giáo lý ngục luyện tội, hành hương, giáo phẩm bắt buộc sống độc thân, vv…..Sau khi ông chết, Giáo hội đã cho khai quật mộ ông lên và lấy xương đem đốt.
Ở Tiệp có một nhà cải cách nổi tiếng là Hus (1371-1415). Ông nguyên là một Linh mục tuyên uý đại học Prague. Ông đã mạnh mẽ chỉ trích các giáo phẩm và Giáo hoàng về tội lỗi và sự dạy dỗ sai trật của họ. Ông bị Giáo hội kết tội “Lạc đạo” và bị thiêu sống năm 1415.
Sang thế kỷ 16, nhà cải cách quan trọng nhất thời bấy giờ là Martin Luther, người Đức (1483-1546). Ông nguyên là một tu sĩ dòng Âu-gút-tin. Ông đậu bằng Tiến sĩ thần học, được thụ phong Linh mục và làm Giáo sư tại đại học đường Wittenberg ở Đức. Dầu được làm Linh mục và có bằng cấp cao như vậy, nhưng Martin Luther không được bình an và không biết chắc mình có được cứu không. Ông đã để tâm suy gẫm Lời Chúa và khám phá chân lý “CỨU RỖI BỞI ĐỨC TIN” theo như Rô-ma 1:17 dạy. Luther rất bất bình khi thấy Giáo hội bán bùa xá tội và dạy dỗ sự cứu rỗi rẻ tiền. Ông soạn thảo một bản tuyên ngôn có 95 điểm để bài bác việc bán bùa xá tội và gởi lên đức tổng Giám mục. Từ đó ông bị Giáo hội để ý theo dõi. Tuy nhiên Luther không lùi bước. Ông tiếp tục mạnh mẽ giảng dạy Kinh thánh và chủ trương: Chỉ có Kinh thánh là thẩm quyền duy nhất của Giáo hội. Ông dạy chân lý “CỨU RỖI BỞI ÂN ĐIỂN VÀ ĐỨC TIN”. Ông chống lại việc bắt buộc các Linh mục sống độc thân. Được các vương hầu người Đức bảo vệ, Luther không bị Giáo hội giết hại. Ngược lại sự dạy dỗ của ông đã được phổ biến rộng rãi và Giáo hội Tin lành theo Giáo lý Luther đã ra đời. (Ngày nay Giáo hội Lutheran vẫn còn hoạt động).
Đồng thời với Luther bên Đức, thì bên Thuỵ sĩ có Zwingli (1484-1531) là người đã đứng lên để cải cách Giáo hội. Zwingli là một Linh mục Công giáo và có bằng Tiến sĩ thần học. Zwingli đã đi xa hơn Luther trong giáo lý về Tiệc thánh. Cả hai đều bác bỏ sự dạy dỗ của Công giáo rằng bánh và rượu nho trở nên thịt và huyết thật của Chúa. Nhưng Zwingli tin rằng Tiệc thánh chỉ có tính cách nhắc nhở con cái Chúa về sự chết của Chúa, chứ không có sự ”hiện diện thật sự” của Chúa trong bánh và nước như Luther chủ trương . Zwingli cũng không dùng tranh ảnh, nhạc khí và cũng không có ca hát trong sự thờ phượng, mặc dầu ông là một người có tài năng về âm nhạc. Thánh đường, đối với Zwingli chỉ là chỗ giảng Lời Chúa mà thôi.
III KHỞI XƯỚNG MENNONITE
Mennonite là Giáo hội tự do đầu tiên trong lịch sử Giáo hội cận đại. Trong khi đó Giáo hội Công giáo cũng như các Giáo hội cải cách khác vào thời trung cổ đều là những Giáo hội nhà nước. Người lãnh đạo đầu tiên của phong trào Hội thánh tự do là Conrad Grebel (1498-1526). Grebel cùng với bạn mình là Felix Mantz là những môn đệ của Zwingli. Ban đầu họ rất ủng hộ Zwingli trong công cuộc cải cách Giáo hội. Nhưng dần dần. Grebel nhận thấy Zwingli quá dè dặt trong cuộc cải cách, nhất là việc Zwingli để cho hội đồng thành phố quyết định những vấn đề giáo lý.
Grebel có cơ hội đọc các bài viết của Thomas Muentzer, là một tác giả người Đức và chịu ảnh hưởng các ý tưởng của tác giả này. Grebel và các đồng bạn đưa ra các chủ trương cấp tiến hơn các nhà cải cách khác trong các điểm sau:
- Tín hữu phải có đời sống đổi mới, phản ánh các Lời dạy của Tân ước. Hội thánh cần chú trọng đến sự vâng Lời Chúa hơn là chú ý đến số lượng hội viên.
- Hội thánh tuân theo nguyên tắc yêu thương và chịu khổ giống như Chúa Jêsus, cho nên Hội thánh không tham gia chiến tranh.
- Hội thánh chỉ nhận nguồn tài chánh đóng góp từ sự dâng hiến của con cái Chúa, và không nhận tài trợ của chính quyền. Chính quyền và Giáo quyền phải tách biệt.
- Phép báp-tem là dấu hiệu bày tỏ niềm tin của những người đã chết cho tội lỗi và sống cho Đấng Christ. Cho nên chỉ những người trưởng thành mới nhận Lễ Báp-tem. Hội thánh không làm Báp-tem cho trẻ em.
Zwingli và nhóm cấp tiến đã có nhiều buổi thảo luận riêng tư, cũng như tranh luận về các lập trường, tín lý. Hai bên thấy rõ rằng họ có nhiều điểm khác biệt nhau. Zwingli đã giữ nguyên lập trường của mình là không phân rẽ giữa Giáo quyền và chính quyền, cũng như tiếp tục làm Báp-tem cho trẻ em. Hội đồng thành phố Zurich đứng về phe Zwingli, họ ra chỉ thị trục xuất những gia đình nào sinh con mà không chịu làm phép Báp-tem cho con trong vòng 8 ngày sau khi sanh. Hội đồng cũng nghiêm cấm Grebel và Mantz, không cho hai ông giảng dạy Kinh thánh cho các học viên của mình.
Đêm thứ bảy, ngày 21/01/1525, Grebel và các bạn của mình đã họp kín với nhau để cầu nguyện và bàn thảo phương hướng mới để đối phó với tình cảnh khó khăn mới. Một Linh mục có tên là George Cajacob cũng cùng tham dự cuộc họp này. Trong lúc thất vọng và lo sợ, họ cùng quỳ gối cầu nguyện. Sau khi họ đứng lên thì Linh mục George yêu cầu Grebel làm phép báp-tem cho mình. Grebel đồng ý, và sau đó các anh em khác lại yêu cầu ông Grebel làm báp-tem cho họ.
Từ trước đến nay Grebel và gia đình ông cố tránh việc tách ra khỏi Giáo hội hiện hữu. Nhưng nay họ thấy rõ rằng Giáo quyền và chính quyền đã liên kết với nhau để cản trở và bắt bớ các anh em cấp tiến. Họ thấy không còn cách nào khác hơn là họ phải đứng riêng ra. Nhóm cải cách mới này được mệnh danh là nhóm”Anh Em” (Brethren), hay nhóm “BÁP-TEM LẠI” (Annabaptist). Grebel và các đồng bạn tích cực đi ra và bắt đầu làm chứng cho bạn bè tại Zurich và các thành phố khác. Trong một thời gian ngắn, số người hưởng ứng chủ thuyết “Hội thánh Tự Do” đã gia tăng đáng kể. Nhưng chính quyền và Giáo hội cải cách của Zwingli đã ra tay bắt bớ phong trào mới này một cách mạnh mẽ. Grebel và những người lãnh đạo phong trào cấp tiến đã phải lưu lạc, lẩn tránh. Grebel qua đời vào năm 1526 vì bạo bệnh. Các nhà lãnh đạo khác của phong trào, trong đó có cha của Grebel cũng như ông Mantz, ông George Cajacob, ông Hans Hus, bác sĩ Balthasar Hubmaier, và ông Michel Sattler đều lần lượt đều bị bắt và bị giết. Trong số họ, người thì bị chém, người thì bị nhận chìm xuống nước, người bị tra tấn hay thiêu sống trong các năm từ 1525 đến 1528. Dẫu vậy, phong trào Annabaptist vẫn tiếp tục lan rộng từ Thuỵ sĩ sang các nước Pháp, Đức, Hoà-lan,vv….
Vị lãnh đạo có công lớn nhất trong việc hợp nhất các nhóm Annabaptist cũng như đã đặt nền móng vững chắc cho phong trào này là ông Menno Simon. Vì vậy sau này người ta gọi những người Annabaptist là Mennonites (những người theo ông Menno). Menno Simon sinh năm 1495 tại Witmarsum, nay thuộc nước Hoà-lan. Ông Simon đã từng đi tu và được thụ phong Linh mục trong Giáo hội Công giáo và cai quản các Giáo xứ trong vùng quê hương ông. Trong thời gian làm Linh mục, ông Simon đã có những hoài nghi về các giáo lý Tiệc thánh và phép báp-tem của Công giáo. Ông đã để tâm nghiên cứu Kinh thánh và đọc các bài viết của các nhà cải cách như Luther, Bullinger, Bucer, vv…. Và kết luận rằng Giáo hội Công giáo đã dạy dỗ nhiều điều sai với Thánh kinh. Dầu vậy, ông vẫn tiếp tục ở trong Giáo hội. Một biến cố sau đó đã có tác động mạnh mẽ trên ông, đó là việc người anh của ông đã dám hy sinh đứng lên chống lại chính quyền. Gương người anh can đảm đã dũng cảm chịu chết vì lý tưởng đã giúp cho ông Menno can đảm đứng lên để sống cho niềm tin chân chính. Menno đã từ chức Linh mục để sống một đời sống lẩn tránh đầy khó khăn của một người theo phong trào cải cách cấp tiến. Các anh em trong phong trào đã phong cho ông làm Trưởng lão, tức là Giám mục. Menno đã phục vụ Chúa tại phong trào Annabaptist tai Hoà-lan và miền tây bắc nước Đức.
Menno Simon đã lưu hành nhiều nơi để dạy dỗ con dân Chúa. Ông cũng cố vấn, khích lệ những người lãnh đạo các nhóm Annabaptist. Ông viết nhiều sách giải nghĩa Kinh thánh cũng như biện minh cho việc cải cách. Các giáo lý quan trọng của ông dạy dỗ gồm: SỰ CỨU RỖI BỞI ĐỨC TIN, KINH THÁNH LÀ THẨM QUYỀN DUY NHẤT ĐỂ XÂY DỰNG NIỀM TIN VÀ NẾP SỐNG ĐẠO. Ông mạnh mẽ bênh vực các lập trường của Hội thánh tự do, phép báp-tem cho người có niềm tin, đời sống yêu thương, tinh thần bất đề kháng, Hội thánh huynh đệ, sự trung tín vâng phục Chúa. Ông cũng dạy về nếp sống nên thánh, nhưng không tin rằng có ai nên thánh hoàn toàn. Ông nhấn mạnh sự cứu rỗi nhờ Ân điển, nhưng không xem nhẹ sự vâng theo Lời Chúa.
IV. MENNONITE BÀNH TRƯỚNG
Hội Thánh Mennonite ở Thuỵ Sĩ không phát triển nhiều vì bị bắt bớ, và vì nhiều người Mennonite phải di dân sang các nước khác. Hội Thánh Mennonite tại Hoà lan thì phát triển mạnh trong giai đoạn đầu, nhưng sau đó lại yếu dần. Tại Ba lan, nhiều cộng đồng Mennonite rất vững mạnh bắt đầu mọc lên vào các năm 1540-1550. Sau hai thế kỷ thành hình, các cộng đồng Mennonite ở Ba lan trở nên quá đông đúc, trong khi đó bên Nga còn nhiều vùng đất hoang vu, chưa ai khai thác. Người Nga mời những người Mennonite, là những người nổi tiếng là giỏi giang về nghề nông, sang đất nước họ khai hoang lập nghiệp. Từ năm 1788-1880, nhiều khu Mennonite đã được thành lập tại miền nam nước Nga do những người Mennonite từ Ba lan di cư sang. Cuộc sống của những người di cư này rất gian nan vất vả trong buổi ban đầu, nhưng dần dần họ khắc phục được khó khăn. Có nhiều người Mennonite đã trở thành những kỹ nghệ gia giàu có.
Vào các năm 1870, vì viễn tượng sẽ bị cưỡng bách nhập ngũ, 18000 người Mennonite đã rời Nga để sang định cư tại Hoa Kỳ và Ca-na-đa. Những người Mennonite còn ở lại Nga chịu nhiều bắt bớ sau thời cách mạng Bolshevik (1917). Những người Mennonite di cư sang Mỹ phần lớn định cư tại các tiểu bang Delaware, Virginia và Pennsylvania.
Ban đầu, những người Mennonite di cư sang Mỹ châu chỉ thành lập những Hội Thánh địa phương tự trị. Về sau họ thành lập nên các giáo hạt (area conferences) và tổng liên hội liên quốc gia (bi-national conferences). Tổng liên hội có số hội viên đông nhất là Mennonite Church (95000 hội viên ở Mỹ và 29000 hội viên ở Ca-na-đa ). Tổng liên hội thứ hai là General Conferences (35000 hội viên ở Mỹ và 29000 hội viên ở Ca-na-đa). Hội Mennonite Bretheren có 42000 hội viên. Ngoài ra còn có các nhóm Amish với khoảng 580000 tín đồ, nhóm Hutterites với khoảng 15000 tín đồ. Người Amish rất bảo thủ. Họ ăn mặc theo lối cổ xưa riêng của họ, và dùng xe ngựa thay vì xe hơi. Họ thờ phượng trong nhà riêng, trong các kho vựa, và sống một cuộc sống hiền hoà trong các nông trại. Người Hutterites có nhiều điểm giống người Amish, chỉ có điều khác là họ chung sống với nhau trong những nông trại tập thể (colony).
Trong thập niên 1990-2000, hai tổng liên hội liên quốc gia Mennonite Church và General Conferences đã kết hợp lại với nhau thành một giáo hội chung với cùng một tín lý (Bản Tuyên Xưng Đức Tin). Giáo hội mới lại tổ chức thành hai Tổng hội đơn Quốc gia gọi là Mennonite Church USA và Mennonite Church Ca-na-đa. Hai tổng liên hội này có nhiều hoạt động trong tinh thần cộng tác hỗ tương nhau.
Tất cả các hệ phái Mennonite đều cộng tác với nhau trong công tác cứu tế xã hội. Họ lập ra cơ quan Mennonite Cerural Committee (MCC). Cơ quan này đã và đang làm công tác cứu trợ, xã hội trên khắp thế giới. Ngày nay, ngoài những người Mennonite có gốc Châu âu lâu đời, nhiều Hội thánh Mennonite trên khắp Thế giới cũng đã mọc lên do kết qủa của công cuộc truyền giáo của người Mennonite. Con số tín đồ Mennonite đã chịu Báp-tem ở 63 nước trên Thế giới theo thống kê năm 2000 & 2006, được phân phối như sau:
Các nước có số Tín đồ Mennonite đông đảo nhất hiện nay là:
Hội MCC sang Việt nam từ năm 1954. Ba năm sau đó, các Giáo sĩ của Hội Truyền giáo Đông Mỹ (Eastem Mennonite Board of Mission, Mennonite Church) đến Sài gòn. Vì tình hình chiến tranh và chính trị bất ổn, công việc truyền giáo tiến triển không được nhanh chóng. Dầu vậy người Mennonite đã góp phần tích cực trong các công tác xã hội, như việc giúp đỡ người làng cùi ở Ban Mê Thuộc, mở chẩn y viện ở Nha trang. MCC cũng đóng vai trò lãnh đạo cứu trợ của cơ quan cứu trợ Cơ-đốc (Việt nam Christian Service), là cơ quan cứu trợ liên hệ phái. Đến năm 1975, tại Việt nam có được hai Hội thánh Tin lành Mennonite, với tổng số hội viên là 150 người.
Sau khi thay đổi chế độ các Hội thánh Mennonite Việt nam đã bị đóng cửa, các con cái Chúa tản lạc. Trong khi dó các Hội thánh Mennonite người Việt tại Mỹ và Ca-na-đa bắt đầu thành hình. Năm 1997, Hội Liên Hữu Mennonite Việt nam tại Bắc Mỹ được thành lập với ba Hội thánh tại Mỹ và năm Hội thánh tại Ca-na-đa. Mục tiêu của Liên Hữu là tạo mối thông công chặt chẽ giữa vòng các Hội thánh Mennonite Việt Nam, và đẩy mạnh côn tác Truyền giáo cho người Việt tại Hải ngoại và tại quê nhà. Chúa đã ban cho Liên Hữu trong công tác này trong những năm qua. Hy vọng rằng, nhờ ơn Chúa, nhiều Hội thánh Mennonite tại Việt nam và hải ngoại sẽ được thành hình và Giáo hội Mennonite Việt Nam sẽ được tái thiết lập. Đại hội đồng của Liên Hữu lần thứ ba của Liên hữu sẽ được tổ chức tại Calgary vào ngày 29 tháng 06 năm 2001.
Nhìn chung, Mennonite không phải là một hệ phái Cơ-đốc đông đảo lắm. Tuy nhiên, người Mennonite đã đóng góp phong phú vào cộng đồng Cơ-đốc qua những dạy dỗ, qua nếp sống đạo cũng như qua những hoạt động cứu tế, xã hội, Truyền giáo để bày tỏ chân lý và tình thương của Chúa cho thế nhân.
Ms Phạm Hữu Nhiên


Hội Truyền Giáo Tin Lành Mennonite tại Việt Nam bắt đầu hoạt động vào năm 1957 khi ông bà Giáo sĩ James và Arlene Stauffer đến Sàigòn dưới sự bảo trợ của Hội Ðồng Mennonite tại Lancaster, Pennylvania. Ông bà làm việc dưới Ðoàn Truyền Giáo và Xã Hội Mennonite Ðông Phương (Eastern Mennonite Board of Missions and Charities). Sau nhiều năm hoạt động, đến năm 1961, có nhiều tín đồ được làm phép báp-têm. Một Trung Tâm Sinh Viên của Hội Mennonite được tạo mãi ở đối diện với Bệnh Viện Bình Dân. Trung Tâm nầy được dùng cho tín đồ họp mặt, thông công. Tại đây cũng có một phòng đọc sách, thư viện và các lớp dạy anh ngữ đã được tổ chức để giúp đỡ các sinh viên học sinh. Sau đó, các hoạt động truyền giáo được mở rộng ra đến Gia Ðịnh (1964), Cần Thơ (1970), và hai trung tâm khác ở Sàigòn được thành lập. Hội Thánh đầu tiên được thành lập là Hội Thánh Gia Ðịnh, nay là quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Hội Thánh Gia Ðịnh, qua các hoạt động y tế, xã hội, giáo dục đã giúp đỡ dân chúng trong vùng một cách đắc lực. Sau Tết Mậu Thân, Hội Truyền Giáo đã giúp đỡ hằng trăm gia đình sửa chửa, xây lại nhà cửa. Vào tháng 3 năm 1969, Mục sư Trần Xuân Quang được phong chức, ngôi nhà thờ mới được xây dựng và dâng hiến vào năm 1973, trong đó có Trường Tiểu Học Rạng Ðông. Nhiều tín đồ hoạt động mạnh trong việc truyền giáo và xã hội giúp đỡ đồng bào địa phương. Vào năm 1964, chính phủ thừa nhận Hội Truyền Giáo Tin Lành Mennonite. Ðến năm 1973, các Hội Thánh họp với nhau và thành lập Giáo Hội Tin Lành, hệ phái Mê-nô-nít. Giáo Hội Tin Lành Mê-nô-nít được tự trị, không lệ thuộc vào Hội Truyền Giáo lúc đó. Sau khi đất nước thống nhất, tài sản của Hội Thánh và Hội Truyền Giáo bị chính quyền trưng dụng. Một số tín đồ rời Việt Nam, nhiều người khác trở về quê, những người còn lại đến nhóm các Hội Thánh Tin Lành Việt Nam hoặc Báp Tít ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Ngày nay, có nhiều nhóm tín hữu Mennonite trong nhiều nơi ở Việt Nam. Nhiều tín hữu được giao phó các chức vụ lãnh đạo hội thánh ở Philadelphia, Sacramento và Honolulu. Hội Truyền Giáo Mennonite thật ra đã bắt đầu hoạt động từ năm 1954 khi Ủy Ban Trung Ương Mennonite (Mennonite Central Committee hay MCC) đến miền Nam để giúp đỡ người tị nạn. Ðây là cơ quan cứu trợ và phát triển của tất cả các Hội thánh Mennonite ở Canada và Hoa Kỳ. Sau đó MCC chú tâm vào công tác y tế và nông nghiệp trên vùng cao nguyên. Các chuyên viên của MCC như y tá, bác sĩ, kỷ sư nông nghiệp... cộng tác chặt chẽ với Hội Thánh Tin Lành Việt Nam làm việc tại Bệnh Viện Cùi Ban Mê Thuộc (từ năm 1955) và Bệnh Viện Tin Lành Hòn Chồng Nha Trang (từ năm 1960). Vào năm 1966, MCC thành lập Tổ Chức Xã Hội Tin Lành (Vietnam Christian Service hay VNCS) với sự cộng tác của Church World Service và Lutheran World Relief. Các nhân viên từ Ấn Ðộ, Nhật Bản, Thụy Sĩ, Mỹ, Gia Nã Ðại cùng làm việc với nhau để giúp đỡ xã hội, y tế, giáo dục và nông nghiệp ở các nơi như Pleiku, Quãng Ngải, Tam Kỳ. Di Linh, Huế và Sàigòn. Các nhân viên Mennonite tình nguyện đến giúp Việt Nam nhằm mục đích hòa bình, ở Việt Nam hay Mỹ. MCC luôn cố gắng giúp nạn nhân chiến tranh ở miền Nam lẫn miền Bắc, từ năm 1966, Hội thỉnh thoảng gởi đồ cứu trợ cho miền Bắc. Sau chiến tranh, MCC tiếp tục tìm cách giúp đỡ dân chúng Việt Nam và đã mở một văn phòng tại Hà Nội vào năm 1990.
- Từ năm 1987- 1996 : Có hoạt động truyền giáo và xây dựng nhóm hạt nhân tại vùng Thủ Thiêm Thủ Đức củ các mục sư và truyền đạo như : MS. Phạm Ngọc Thạch,TĐ. Hạ Võ bảo Nguyên, MS Nguyễn Văn Phương, MS Lê Thị Phú Dung, MS Nguyễn Hồng Quang, MS Trương Trí Hiền, MS Nguyễn Thành Tâm, Nữ Truyền Đạo Thiên Ân…(nhân sự trước 1998 thuộc nhóm Thông Công Cơ Đốc Tân Bình và Hội Thánh Tình Thương Cơ Đốc Việt Nam liên kết với ban truyền Giáo Mennonite Bắc Mỹ)
- Từ năm 1997 – 1998 chính thức nâng tổ hạt nhân thành Hội Thánh Tin Lành Mennonite Quận 2 .
- Năm 1998 được Liên Hữu Mennonite Bắc Mỹ ủng hộ và công nhận các chức vụ của nhân sự Mennonite tại quận 2.
- Năm 1999 văn phòng Giáo Hội Mennonite lâm thời được thành lập Tại Quận 2, có sự hướng dẫn và tham dự của Liên hữu Mennonite Bắc Mỹ; nhân sự văn phòng giáo hội tại Quận Tân Bình chuyển về quận 2 làm việc.
- Năm 1999-2000 giáo sư Mennonite vùng Miền Đông Hoa kỳ từ Campuchia sang giảng dạy tại Tân Bình và Quận 2.
- Năm 2001 Giáo hội Mennonite Canada công nhận sự lãnh đạo cộng đồng Mennonite Việt nam cho nhân sự làm việc tại Văn phòng Quận 2.
- Năm 2002 Tổng thư ký Mennonite Thế Giới tại Pháp đến thăm viếng vùng quận 2 và mời tham dự hội nghị Mennonite toàn cầu.
- Giám đốc Á Châu Vụ của Mennonite Hoa kỳ & Liên Hữu Mennonite Bắc Mỹ cấp 230 chứng thư mục vụ cho nhân sự Mennonite được huấn luyện từ cơ sở tại Quận 2.
- Năm 2002 thành lập Liên Đoàn Hướng Đạo Sinh Cơ đốc với 120 đoàn sinh đủ 4 ngành Ấu, Thiếu, Kha, Tráng sinh hoạt tại Hội Quán Mennonite’S Garden tổ 79, khu phố 6, phường An Khánh Quận 2.
- Ngày 01/06/2003 sáp nhập Đạo Đoàn Đồng Nai và Đạo Đoàn Abraham thành Châu Đồng Nai với 350 đoàn sinh, sắp tuyên hứa nhiều tân sinh của nhiều giáo họ và giáo xứ Công giáo và các hệ phái Tin lành. Giúp tái tuyên hứa nhiều tu sĩ trong và ngoài nước về quận 2.
- Ngày 27/07/2003 đại hội giáo hội Mennonite lần I, tổ chức tại Hội Thánh Mennonite quận 2, có sự tham dự của Liên hữu Mennonite Bắc Mỹ, cơ quan EMM Hoa kỳ.
- Năm 2006 Hiệp hội thông công Tin lành các sắc tộc được hình thành tại Mennonite’S Garden Quận 2.
- Năm 2003-2010 liên tục có đại diện Mennonite thế giới, Mennonite Cuba, Mennonite Nhật và Ấn Độ, Maylaysia, Hoa kỳ, Canada thông công với nhân sự giáo hội Quận 2 . Và Mennonite Nhật Bản mời tham dự mục vụ Á Châu.
- Nhiều tổ chức cơ đốc cũng như nhiều hệ phái tin lành sử dụng các giáo sở của giáo hội Mennonite tại Quận 2 như Full Gospel, Assemble of God, Church of God, VEF, VCF, Church of Christ (Australia), VOM, Các nước như Indonesia, Hàn Quốc, Philippine , liên hội tin lành Canada… đều có cử mục sư đến thông bồi linh, giảng dạy tại trung tâm chức vụ Mennonite Quận 2 suốt 17 năm qua.
- Các phóng viên của MBC Hàn Quốc, Washington Time ( Hoa Kỳ) và nhiều phóng viên Âu Mỹ, các sinh viên tàu hòa bình (Peace Boat) , Các cơ quan ngoại giao, lãnh sự các nước, các giáo sư đại học Hoa kỳ, Canada, Úc, Singapore, Vương quốc Anh, giáo sư Maxwell, BEE có đến Trung tâm mục vụ Quận 2 thăm viếng nên biết nhiều qui mô hoạt động rất thuần túy và ổn định của Trung Tâm mục vụ Mennonite quận 2.
- Tiến sĩ Phillip Scott của Uỷ Hội Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Quốc hội Hoa Kỳ có đến thăm tại giáo sở quận 2, tìm hiểu phong trào hướng đạo sinh cơ đốc.
- Cơ sở tại Quận 2 cũng huấn luyện bán tập trung cho 150 mục sư truyền đạo Mennonite mọi sắc tộc tốt nghiệp trường chức vụ Mennonite, thay vì qua Campuchia huấn luyện như trước đây. Hiện là nơi duy nhất tổ chức họp định kỳ toàn quốc của Giáo hội, kéo dài hơn 10 năm.
- Trung tâm mục vụ Mennonite quận 2 cũng đang đào tạo sinh viên hệ chính quy tập trung gồm 56 sinh viên hiện năm thứ 3 gồm cả hai giáo sở .
Giới thiệu đôi nét về hai trung tâm mục vụ :
Được sử dụng tại quận 2 hơn 10- 15 năm qua với bao nhiêu nhục nhằn, tù tội lẫn nước mắt đắng cay của sự bách hại liên tục cho tới nay..
1. Về trụ sở giáo hội tại số: C5/1H đường Trần Não, Phường Bình Khánh, Quận 2:
Diện tích đất 186,28m2, diện tích sàn xây dựng 350 m2, có phần đóng góp nhỏ tài chánh của cơ quan EMM và Liên Hữu Bắc Mỹ, chủ yếu là dân lập.Cơ sở nầy nhiều lần bị cưỡng chế đập phá tan nát 3 lần và có khiếu nại 2 lần năm 2005 đến nay chưa giải quyết ! Giáo sở nầy có trước năm 1996, từ năm 1997 được dùng làm lớp học BEE bởi chương trình của Chủng Viện Dallas Hoa Kỳ , năm 1998 sử dụng làm nhà nguyện của hội thánh Mennonite quận 2, nơi nhóm họp với hơn 200 tín hữu địa phương; nơi đi về của hàng ngàn tín hữu và nhân sự toàn quốc, nơi làm văn phòng giáo hội , Văn phòng Hướng đạo Sinh và văn phòng nhóm Luật gia Cơ Đốc tại 7/1A Trần Não bị công an giải tán chuyển về đây.
Có nhà kho chứa hàng ngàn sách và cả ngàn băng từ, đĩa VCD, DVD có nội dung tôn giáo bị công an khám xét tịch thu và UBND Quận 2 ra quyết định 6232/QĐ-UBND ngày 30/08/2007 tiêu hủy toàn bộ văn phẩm phục vụ cho niềm tin tôn giáo.
Giáo sở nầy giờ đây đang bị kẻ xấu trong chính quyền tìm mọi sơ sót pháp lý lẫn chính sách qui hoạch để bắt chặt cản trở mọi hoạt động, đi đến tiêu diệt hoạt động mục vụ của giáo hội tại vùng Thủ Thiêm.
2. Về Trung Tâm Mục Vụ tại tổ 79, khu phố 6, Phường Bình Khánh, quận 2
( The Thu Thiem Mennonite’s Praying Garden) :
Nằm cách chân cầu Thủ Thiêm 350m. Trung tâm mục vụ nầy với diện tích 2169,7m2 bao gồm hai lô đất :
- Lô số 26 diện tích: 359,7 m2 thuộc tờ bản đồ địa chính lập ngày 03/06/2002 của UBND An Khánh.
- Lô số 28 diện tích: 1810m2 thuộc tờ bản đồ địa chính lập ngày 10/06/2002 sau khi khảo sát xác định lô đất ở thực địa.
- Đây là trung tâm mục vụ lớn nhất của giáo hội tại Sài gòn. Khu nầy có nguồn gốc sử dụng hợp pháp có căn cứ pháp lý chứng thực rõ ràng của các cơ quan thẩm quyền từ tòa án, UBND Quận 2 và UBND Phường An khánh. Xây dựng từ năm 1996, tháng 6-9/2001 hoàn tất sửa chữa với vật liệu nhẹ tole ván củ như hiện trạng với 710m2 đất ở của hai lô, bao gồm đường đi, sân, chuồng trại nhà bếp,nhà chứa cùi đốt. Riêng nhà vệ sinh rất tệ vì bị kẻ lạ mặt đập phá tan nát, sửa chữa lại bị chính quyền gây khó, chụp mũ bắng quyết định hành chánh vu cáo xây dựng trái phép trong Đô Thị Mới Thủ Thiêm ( ông Thuận chủ tịch ký vu khống đã vào tù)
- Nơi đây nhiều lần xin phép sửa chữa nhà cấp 4 , xây tường gạch chống gió bão, dù được phòng quản lý đô thị quận ( Anh Đài Loan) thuận nhưng vẫn bị phường An khánh bác bỏ bởi sự có mặt của An Ninh.
- Nơi đây được ngăn thành 6 phòng ở cho 6 gia đình Mennonite với 21 nhân khẩu và nơi ở của nhiều sinh viên học sinh Tin lành nhiều khóa tham gia học tập tại Tp. HCM có người trở thành y sĩ, thợ máy, kỹ sư, mục sư, truyền đạo, có hàng trăm hướng đạo sinh cơ đốc họp bầy tại đây.
- Nơi đây cũng là ký túc xá cho nam sinh viên Mennonite nghĩ ngơi học tập 3 năm qua,và cả ngàn lượt Cơ đốc nhân trong và ngoài nước đến đây tĩnh nguyện Hiệp Hội Thông Công Tin Lành ( VEF, VCF) có thông công, họp và cả bầu cử các chức vụ tại đây,việc nầy bắt đầu từ tháng 06/2001 còn kéo dài tận hôm nay.
- Phòng nhóm là một gát gỗ 120m2 nhìn ra bốn hướng ngày nào cũng có cầu nguyện hàng chục người rất phước hạnh, phòng sách có 5000 cuốn cho sinh viên và tín hữu đọc, có một phòng y tế chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, có một nữ tín hữu Mennonite bị chính quyền Bình Khánh đánh trụy thai con so ngày 22/05/2006 đem về đây điều trị và sau đó 3 lần sinh nở đều không thành, nhiều người bệnh ,trẻ em bị tật, kể cả mục sư Nam phi sống tại Việt Nam cũng về đây dưỡng bệnh, có 2 nữ tín hữu Tin lành vừa bị đánh thương tích cũng về đây điều trị. Đây như một “thành ẩn nấp” trong kinh thánh thời cựu ước, nhiều người mất việc, đói rách, bịnh tật,vô gia cư, lẫn sinh viên đều tìm đến xin tá túc ngắn hạn cũng như dài hạn.
- Nơi đây cũng là nơi chăm sóc các Tù nhân Sắc Tộc, và các tù nhân chính trị nhà nghèo không có điều kiện thuê nhà hay không có thân nhân tại thành phố, họ ở học tiếng anh vi tính , được tư vấn tâm lý, luật pháp, sức khỏe…sau khi ra tù.
- Đặc biệt trong khu vườn có nhiều cây cổ thụ trồng gần 15 năm có cây gốc gần 2m chu vi, và hàng trăm cây xanh cao cả 10-15m có cây cao hơn. Vườn có rất nhiều rau muống tự nhiên, cung cấp rau sạch cho cả ngót 100 người. Có ba ao cá trong vườn luôn có cá thêm thức ăn cho sinh viên, cá lươn đồng đầy chung quanh vườn có lúc 5-10 kg là chuyện thường, gà nuôi tại đây nhanh lớn đã thiết đãi nhiều khách của giáo hội.
- Khu vườn xanh biết mát mẽ quanh năm với mùa hoa súng tuyệt đẹp trên ao, khí hậu trong lành nằm ngay sát đại lộ Đông –Tây, sát nách quận 1 chỉ 1 phút xe máy, đó cũng là điều mà lòng tham được núp bóng qui hoạch của các nhóm lợi ích chỉ biết lợi nhuận coi thường lợi ích nhân dân và Tôn giáo muốn chiếm đoạt nốt số đất đai ít ỏi để dành phụng thờ Thiên Chúa, phục vụ chăm sóc tinh thần của nhân dân mà giáo hội Mennonite đã làm bấy lâu nay.
- Mặc dù Quyết định 6565/QĐ UBND TP. HCM phê duyệt khu Trung Tâm Đô Thị Mới Thủ Thiêm dành ra tới 97,2 ha làm 4 khu dân cư và 23,4 ha đất dành cho cơ cở tôn giáo và công trình văn hóa!. Bản đồ qui hoạch giai đoạn 3 kết thúc gồm ba cơ quan thẩm quyền đã ấn ký khu đất của giáo hội Mennonite nằm trong khu số 2 và 12 là khu dân cư, nhưng ai là dân cư tại đây?
- Việc trục xuất cơ sở của giáo hội ra đi, không cần biết nhu cầu của giáo dân, muốn lấy không giáo sở, đền bù như bố thí bằng cách vu cáo nơi thờ tự thiêng liêng là chòi giữ đất mới cất ?! bất chấp sự thực và đạo lý, bất chấp cả ngàn chứng nhân là công dân đang sống từng đến !!!
- Tại sao lại bất chấp những đề nghị “ đổi đất” đúng pháp luật khi hiệp thương? Tại sao bất chấp thông tin và chứng từ pháp lý bổ sung (đã gửi lên họ hồi 10 giờ 35 phút ngày 05/12/2010 ) chính quyền không kịp cứu xét cậy quyền lực ra các quyết định tàn bạo nhằm triệt hạ nơi thờ tự, xúc phạm đến niềm tin của người dân, chỉ lo bảo vệ cho quyền lợi cho “nhà đầu tư” dấu mặt bí ẩn với nhân dân mà đáng lý họ phải đối mặt hiệp thương với dân.
- Chính quyền lý ra phải đứng về phía quyền lợi dân chí ít cũng trung dung?
báo chí cả nước đã vào cuộc khui ra bao điều bất cập, cử tri, cựu chiến binh, bao lần tiếp xúc cử tri đau xót khi một cựu chiến binh phường An Lợi Đông phát biểu “ chính quyền nầy là chính quyền của dự án, không còn là của dân nữa!” hay cựu phó bí thư quận ủy : “ chính quyền chỉ chú ý đến nhà đầu tư , không chú ý đến quyền lợi người dân.”